Bàn về nhà nước pháp quyền và vấn đề xây dựng Nhà nước Pháp quyền ở Việt Nam
Khoản 1, Điều 2, Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”.
Nhà nước pháp quyền đươc hiểu là một trật tự pháp lý mà trong đó Nhà nước thực hiện quyền lực của mình nhằm bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân. Trong mối quan hệ của Nhà nước, Pháp luật là tối thượng, là cơ sở của tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Nhân dân là gốc của quyền lực Nhà nước. Pháp luật minh bạch, công khai và được xây dựng bằng con đường dân chủ, được thực hiện nghiêm chỉnh và công bằng.
Trước hết, Nhà nước phải dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Hiến pháp. Hiến pháp là quyền cao nhất của dân chủ, Luật là đại diện của dân chủ. Hiến pháp là tác giả của Nhân dân. Pháp luật chi phối các hoạt động của Nhà nước. Nhà nước Pháp quyền là Nhà nước không tùy tiện, “cá nhân thì cho phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, cơ quan nhà nước và các quan chức chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định”. Những ai được nhân dân trao quyền thì chỉ được làm việc công, không được dùng quyền này để làm việc tư. Tất cả những người được cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các cơ quan quyền lực Nhà nước (về lập pháp, hành pháp và tư pháp) được bầu cử một cách tự do với sự tham gia trực tiếp của mọi công dân để có thể thể hiện một cách đầy đủ về ý chí của họ. Nhà nước pháp quyền có một ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo vệ các quyền tự do của cá nhân, các quyền con người khỏi sự xâm phạm từ các cơ quan công quyền hay từ việc thực thi quyền lực nhà nước.
Pháp luật có vai trò chi phối, tối thượng trong xã hội. Trong nhà nước Pháp quyền, pháp luật là thước đo (chuẩn mực) của tự do… Mọi đường lối, chính sách và quyết định của nhà nước đều phải dựa vào Pháp luật, phục tùng luật và tất cả các mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và cá nhân cũng dựa trên cơ sở của Pháp luật. Pháp luật của Nhà nước pháp quyền phải vươn tới sự đầy đủ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Nhà nước pháp quyền là loại hình nhà nước có nhiều khả năng nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy chính quyền. Pháp luật phải đứng trên nhà nước và nhà nước phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền có một hạt nhân căn bản là chính quyền bị điều chỉnh bởi pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là chính quyền phải tuân thủ vô điều kiện pháp luật mà pháp luật ở đây biểu thị công bằng, công lý gần gủi với luật tự nhiên. Pháp quyền đã bao hàm yêu cầu tuân thủ pháp luật giống như pháp chế.
Nhân dân là gốc của quyền lực Nhà nước. Nhà nước được xây dựng trên nền tảng của xã hội công dân. Một xã hội mà ở đó công dân là chủ thể, nhà nước có trách nhiệm phục tùng lợi ích của công dân. J. Locke (1632-1704 là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh) cho rằng: “Chính quyền được tạo dựng trên cơ sở sự bằng lòng của dân chúng và hành động của chính quyền không được sự đồng lòng của dân chúng là không có giá trị hay không được ủy quyền”.
Pháp luật minh bạch, công khai và được xây dựng bằng con đường dân chủ, được thực hiện nghiêm chỉnh và công bằng. Nhiều học giả cho rằng nhà nước pháp quyền gắn liền với vấn đề dân chủ. Nhận định này là đúng và rất quan trọng. Nền dân chủ và nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có một tổ chức Nhà nước thích hợp nhằm bảo đảm công bằng và công lý hay nói cách khác bảo đảm sự cân bằng giữa các yêu cầu của nền dân chủ và các yêu cầu của nhà nước pháp quyền.
Xây dựng nhà nước pháp quyền ở việt nam là một nhà nước pháp quyền hiện đại. Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc pháp quyền, đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Bảo đảm thực thi đầy đủ nguyên lý chủ quyền nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Bảo đảm thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân cả trong tinh thần và thực tiễn vận hành: Nhà nước phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Quyền lực nhà nước là có giới hạn một cách rõ ràng bằng pháp luật: Mọi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của nhà nước, các cơ quan Nhà nước đều được Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định rõ ràng, bảo đảm các cơ quan Nhà nước, quan chức nhà nước không tùy tiện thực hiện các hành vi ngoài quy định của Pháp luật.
Mối liên hệ giữa các thiết chế lập pháp, hành pháp và tư pháp trong bộ máy nhà nước được điều chỉnh bởi nguyên tắc phân quyền: Quyền lực của mỗi cơ quan được phân định rõ ràng và có sự cân bằng, chế ước lẫn nhau (bảo đảm thực hiện đúng và đầy đủ sự phân công và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp). Điểm 3, Điều 2, Hiến pháp năm 2013 chỉ rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Thượng tôn pháp luật được bảo đảm trong mọi hành vi ứng xử của Nhà nước đối với xã hội và đối với thị trường: Bảo đảm mọi hành vi ứng xử của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước, của các quan chức nhà nước đều có thể chịu sự tài phán của Tòa án độc lập, không thiên vị; không có vùng cấm trong xử lý các hành vi vi phạm. Cơ chế tài phán Hiến pháp được thiết lập và vận hành một cách hiệu quả.
Trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước, các quan chức Nhà nước được đảm bảo. Trách nhiệm cá nhân của từng cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước (nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo) được xác định rõ ràng và bảo đảm trong thực tế. Sự kiểm soát quyền lực trong thực thi công vụ được bảo đảm theo hướng cán bộ, công chức có quyền càng lớn, chức vụ càng cao thì sự kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ.
Độc lập trong hoạt động xét xử (độc lập tư pháp) được bảo đảm một cách đầy đủ và thực chất (thể hiện cả trong cách thức tổ chức các cơ quan tư pháp, điều kiện bảo đảm về ngân sách, nguồn bổ nhiệm, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ tư pháp.v.v…).
Nhà nước xây dựng hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, khả thi, thống nhất, đồng bộ, ổn định, dễ tiên liệu và dễ tiếp cận. Pháp luật vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý xã hội, đồng thời là công cụ hữu hiệu để nhân dân kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước.
Phân định thẩm quyền trung ương, địa phương (phân cấp): Một cách rõ ràng, bằng luật định, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, từng bước thực hiện nguyên tắc tự quản địa phương.
Tôn trọng đầy đủ cam kết quốc tế, tham gia tích cực vào các cơ chế quản trị toàn cầu để góp phần vào sự phát triển chung của thế giới và bảo vệ thỏa đáng có hiệu lực lợi ích quốc gia.
Nhà nước với tư cách là người điều tiết các hoạt động kinh tế: Đề ra luật chơi cho tất cả các chủ thể (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, công ty, tổ chức xã hội và người dân nói chung) để khắc phục tình trạng bất cân xứng trong thông tin (minh bạch giao dịch thị trường, minh bạch luật chơi, đảm bảo tính khả đoán của môi trường pháp lý. Điều tiết thị trường lao động. Điều tiết các giao dịch thương mại; điều tiết việc sử dụng tài sản (bao gồm điều tiết việc khai thác, sử dụng đất và các loại tài sản khác).
Nhà nước với tư cách là chủ thể duy trì trật tự công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân: Tạo khung pháp lý (về sở hữu, tự do hợp đồng, tự do kinh doanh.v.v…); áp dụng luật nhất quán đối với mọi người, mọi pháp nhân (bao gồm việc duy trì một cơ chế thực thi luật hiệu quả, hệ thống giải quyết tranh chấp hiệu quả).
Nhà nước với tư cách là chủ thể bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát, đảm bảo cán cân thanh toán, kiểm soát nợ công.v.v…
Nhà nước với tư cách là chủ thể tái phân phối, điều tiết thu nhập, tạo công bằng xã hội thông qua: Mạng lưới an sinh xã hội; chính sách thuế đáp ứng nhu cầu tài chính và đánh thuế lũy tiến.
Nhà nước với tư cách là chủ thể bảo đảm sự cung cấp hàng hóa, dịch vụ công (đối với những loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết mà khu vực tư nhân không được phép cung cấp): Cơ sở hạ tầng; phát triển nguồn vốn con người; quản lý rủi ro tổng thể. Thông thương, nhà nước chỉ hiện diện ở các ngành thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế hoặc những ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa đủ sức hoặc không muốn đầu tư.
Nhà nước có trách nhiệm xây dựng năng lực hiện đại và tinh vi hơn để có thể điều tiết được một nền kinh tế đa dạng và phát triển ở trình độ cao hơn.
Một nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại.
Đây là một nền kinh tế có môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng, lành mạnh tuân thủ đầy đủ các quy luật thị trường trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế: Bảo hộ quyền sở hữu, tự do hợp đồng, tự do kinh doanh được bảo đảm ở mức cao nhất; bảo đảm sự bình đẳng của mọi người dân trong việc tiếp cận các cơ hội và việc làm, cơ hội kinh doanh, cơ hội tham gia phát triển kinh tế - xã hội; loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử bất hợp lý (về tiếp cận vốn, đất đai, bảo lãnh.v.v…) giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước; nhiều chủ thể tham gia thị trường hơn, mức độ cạnh tranh mạnh mẽ hơn, mức hội nhập cao hơn; Thị trường giữ vai trò là cơ sở và quyết định việc phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế; đảm bảo khu vực tư nhân là động lực chủ yếu trong sự phát triển kinh tế quốc gia; loại bỏ mọi sự can thiệp tùy tiện, bất hợp lý của nhà nước vào quá trình phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thông qua cơ chế thị trường; kiểm soát được các biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”; Sử dụng hợp lý công cụ thuế để khuyến khích phát triển kinh tế và điều tiết thu nhập, tạo công bằng xã hội; Giá cả hàng hóa, dịch vụ công phải theo cơ chế thị trường, các hình thức trợ cấp đều có mục đích rõ ràng và được minh bạch hóa.
Một xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao. Thể chế dân chủ được bảo đảm ở mức cao nhất để mọi năng lực của cá nhân, tổ chức trong xã hội đều được giải phóng vì sự phát triển của xã hội, đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính Nhà nước: Bảo đảm thực sự quyền làm chủ của nhân dân, trong đó nâng cao hiệu quả của dân chủ đại diện, đồng thời coi trọng và có cơ chế pháp lý hữu hiệu bảo đảm quyền dân chủ trực tiếp của công dân. Các tổ chức xã hội có nhiều quyền tự chủ về tổ chức và hoạt động hơn, để tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách ngày càng tích cực, thúc đẩy việc nâng cao trách nhiệm giải trình của nhà nước. Tổ chức xã hội thực sự là đối tác của Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế đáp ứng nhu cầu của các nhóm dân cư. Bảo đảm tốt hơn sự tự do lưu chuyển thông tin trong xã hội với cơ chế tiếp cận thông tin thực sự có hiệu lực và hiệu quả.
Việt Nam đang tụt hậu xa so với nhiều quốc gia trong khu vực về hiệu lực, hiệu quả quản trị Nhà nước, về hoàn thiện thể chế phát triển. Vì vậy, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình không thể nóng vội, mà nó là sự nghiệp lâu dài của nhiều thế hệ người Việt Nam để xây dựng một nhà nước pháp quyền hiện đại; một nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại; một xã hội dân chủ pháp triển ở trình độ cao. Như một cái kiềng 3 chân mà nước Việt Nam hướng tới.
Phạm Ngọc Chiến
- Ban Dân vận Huyện uỷ đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba (11/12/2019)
- Những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm (11/12/2019)
- CCB xã Thuận Hóa: Hội Cựu Chiến Binh xã Thuận Hóa tổng kết hoạt động công tác hội năm 2019 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2020. (05/12/2019)
- Ngân hàng Chính sách xã hội huyện phối hợp với Hội Nông dân giải ngân cho vay vốn chính sách trên 70 tỷ đồng (05/12/2019)
- Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan đảng ở huyện Tuyên Hoa (02/12/2019)
- Mức cho vay vốn giải quyết việc làm tăng lên tối đa 2 tỷ đồng/dự án (05/11/2019)
- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh giám sát cho vay hộ nghèo tại huyện Tuyên Hóa (05/11/2019)
- Hiệu quả từ hệ thống mẫu văn bản nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng (24/10/2019)
- Tuyên Hóa tổ chức thành công Hội thi Báo cáo viên giỏi cấp huyện năm 2019 (24/10/2019)
- Phấn đấu thực hiện thật tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác Dân vận (24/10/2019)


